CHIẾC BÁNH TRUNG THU

Sáng nay, có Phật tử mang đến chùa cúng dường một hộp bánh Trung thu. Tôi cầm hộp bánh trên tay, trân trọng tấm chân tình của người Phật tử. Bỗng trong lòng dâng lên một cảm xúc rất mạnh. Tôi nhìn hộp bánh trước mặt mà lòng bồi hồi, cảm xúc, vì dường như qua nó, tôi đang nhìn thấy một hộp bánh khác nhiều năm về trước. Cùng với hộp bánh ấy, một buổi chiều mưa rất xa bỗng hiện về, trong căn nhà năm cũ, mẹ, anh chị em và hình bóng của cha, người đàn ông với đôi bàn tay chai sạm, một đời ít nói về những vất vả của mình nhưng đã âm thầm dùng chính những tháng năm lao động để nuôi đàn con khôn lớn.

Năm ấy tôi khoảng mười ba, mười bốn tuổi. Gia đình từ miền Trung vào miền Tây sinh sống, cuộc sống còn nhiều kham khổ. Cái nghèo ngày ấy không phải là một điều gì trừu tượng. Nó hiện diện trong từng bữa cơm, từng manh áo, trong những thứ cần phải dành dụm rất lâu mới mua được, và cả trong những ước mong rất nhỏ của trẻ con.

Trung thu đến, trẻ con trong xóm ríu rít nói với nhau về bánh, về những niềm vui của ngày rằm. Anh chị em chúng tôi cũng thích, cũng mong như bao đứa trẻ khác, nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện xin cha mẹ mua bánh. Có lẽ những đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn thường sớm biết cảm thông với gia đình. Chúng vẫn có những mong ước hồn nhiên của tuổi nhỏ, nhưng cũng sớm hiểu có những điều mình thích mà không nên đòi. Một chiếc bánh Trung thu với hoàn cảnh gia đình tôi lúc ấy, không phải là chuyện dễ dàng.

Hình ảnh minh họa bánh Trung Thu 1

Thế rồi chiều hôm ấy, cha trở về với mấy hộp bánh Trung thu trên tay. Niềm vui của anh chị em chúng tôi lúc ấy khó mà diễn tả hết. Mẹ cũng ngạc nhiên, nhìn những hộp bánh rồi hỏi cha sao hôm nay mua nhiều như vậy. Cha không giải thích, chỉ cười.

Cha lấy một hộp đặt lên bàn thờ ông bà, thắp hương trước. Trong làn khói hương, cha đứng trước bàn thờ tổ tiên, rồi sau đó mới quay lại cùng mẹ chia bánh cho mọi người trong gia đình. Thuở ấy, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ đang háo hức chờ được ăn bánh. Có lẽ trong đầu chỉ mong nén hương cháy nhanh một chút để được cầm chiếc bánh trên tay. Rất lâu sau này, khi nhìn lại, tôi mới hiểu hành động rất bình thường của cha ngày ấy chứa đựng một nếp sống mà cha đã âm thầm trao lại cho các con. Gia đình có được một món ngon cũng nhớ đến ông bà trước. Người đang sống được hưởng niềm vui nhưng không quên những người đã khuất. Cha chẳng nói với chúng tôi về hai chữ “nhớ nguồn”, cũng chẳng cần giải thích thế nào là đạo lý gia đình.

Mỗi đứa chúng tôi được cầm chiếc bánh của mình, sung sướng thưởng thức món quà trong niềm vui của một mùa Trung thu bỗng trở nên trọn vẹn. Mãi về sau tôi mới biết để có được những hộp bánh Trung thu ấy mang về nhà cho vợ con, cha đã làm thuê cho gia đình người bán bánh. Mỗi hộp bánh là một ngày lao động nhọc nhằn của cha.

Khi tôi biết rằng cha làm một ngày đổi một hộp bánh, tôi chỉ hiểu đơn giản rằng cha thương các con. Nhưng đến khi trưởng thành, tôi mới hiểu một ngày lao động thực sự là gì? Một ngày công không chỉ là số tiền hay món đồ nhận được sau một ngày làm việc. Đó là một ngày của đời người. Từ sáng đến chiều, cha đem sức lực của mình ra nhọc nhằn làm việc. Trong một ngày đó, có nắng mưa cùng bao gian khó. Với một người lao động nghèo, sức lực gần như là tài sản lớn nhất mà họ có.

Hình ảnh minh họa bánh Trung Thu 2

Cha đã đem thứ tài sản ấy đổi lấy mấy hộp bánh cho gia đình, nhưng điều khiến tôi xúc động hơn cả là cha chưa bao giờ kể về những vất vả ấy. Khi mẹ hỏi cha làm sao mua được bánh, cha chỉ cười. Khi nhìn các con ăn, cha cũng chỉ cười. Ngày ấy, tôi không hiểu nụ cười đó. Sau này lớn lên, tôi mới hiểu rằng có lẽ cha đã quen với việc giấu phần cực nhọc về mình. Cha đem về nhà những chiếc bánh, nhưng không đem về lời than mệt. Cha đem về niềm vui, nhưng không bắt các con phải biết cái giá của niềm vui ấy. Cha để chúng tôi nếm vị ngọt của bánh, còn vị mặn của mồ hôi thì cha giữ lại cho riêng mình.

Có lẽ tình thương của rất nhiều người cha, người mẹ trên cuộc đời này cũng như thế, không cần nói bằng những lời hoa mỹ, đôi khi cũng chẳng biểu lộ bằng những cử chỉ mà trẻ nhỏ dễ dàng nhận ra. Nó nằm trong buổi sáng đi làm, chiều trở về nhà, trong những đồng tiền chắt chiu cho gia đình.

Nếu một hộp bánh là một ngày lao động, vậy một tuổi thơ được nuôi lớn là bao nhiêu ngày lao động? Bao nhiêu bữa cơm chúng tôi đã ăn, bao nhiêu manh áo đã mặc, bao nhiêu lần đau bệnh, bao nhiêu năm học hành…? Và phía sau tất cả những điều ấy là bao nhiêu ngày trong cuộc đời cha mẹ? Cha mẹ chưa bao giờ tính, mà có lẽ cũng chẳng ai có thể tính được.

Chúng ta lớn lên thường chỉ nhớ rằng ngày ấy nhà mình có cơm ăn, có áo mặc, được đi học, đau bệnh thì có người chăm sóc. Những điều ấy bình thường đến mức một đứa trẻ dễ nghĩ rằng chúng vốn phải có như vậy. Khi còn nhỏ, chúng ta nhìn thấy những gì cha mẹ cho. Lớn lên rồi mới bắt đầu nhìn thấy những gì cha mẹ đã phải đánh đổi để cho mình những điều ấy.

Hình ảnh minh họa bánh Trung Thu 3

Tôi nhớ đôi bàn tay của cha mình. Đôi bàn tay ấy thô ráp, chai sạm vì lao động. Mỗi khi anh chị em chúng tôi đau ốm, cha thường xoa dầu vào hai bàn tay chai sạm ấy rồi chà lên người, vui vẻ nói: “Bàn tay độc dược của cha đây, chà một chút là hết bệnh.” Lũ trẻ chúng tôi vừa cười vừa né vì những vết chai cọ vào da vừa rát vừa đau. Ngày ấy, “bàn tay độc dược” chỉ là một câu nói đùa. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy đôi bàn tay ấy thật sự đã làm nên những điều kỳ diệu cho cuộc đời chúng tôi.

Không phải phép màu nào xa xôi. Chỉ là từ hai bàn tay ấy, một gia đình có cơm ăn. Từ hai bàn tay ấy, những đứa trẻ có áo mặc, có thuốc khi đau bệnh, có điều kiện để lớn lên. Khi mẹ bệnh nặng, cũng chính cha có những lúc phải gánh cả hai vai, vừa là cha vừa thay mẹ chăm sóc anh chị em chúng tôi. Trên đôi bàn tay ấy còn in dấu của nắng, mưa, mồ hôi, những tháng năm kham khổ; và phía sau tất cả là một mong ước rất bình thường của người làm cha: mong các con được lớn khôn nên người.

Mãi đến một ngày ngoảnh lại, tôi mới nhận ra rằng trong khoảng thời gian mình lớn lên ấy, tóc cha đã bạc, lưng mẹ đã còng, đôi tay từng bế mình đã không còn mạnh, những bước chân từng đi rất nhanh vì con nay đã chậm. Có lẽ sự trưởng thành của người con và sự già đi của cha mẹ là hai dòng thời gian luôn đi bên nhau. Chỉ tiếc rằng khi còn trẻ, ta thường nhìn về phía trước nên không nhận ra người phía sau đang già đi.

Người cha năm ấy, người từng đem sức lao động của mình đổi lấy những hộp bánh cho vợ con, nay đã đi gần hết một đời người.

Ngày nay, một hộp bánh Trung thu là món quà phổ biến trong dịp trăng rằm tháng tám. Những chiếc bánh bây giờ ngon hơn, đẹp hơn và có lẽ đắt tiền hơn rất nhiều. Nhưng có lẽ trong suốt phần đời còn lại, tôi sẽ không bao giờ gặp lại một hộp bánh nào quý bằng hộp bánh của cha năm ấy… bởi trong đó có cả tình thương, và bao điều cha chưa từng nói thành lời.

Trong hình ảnh rất đỗi bình dị ấy dường như có cả một đời cha: phía trước là ông bà tổ tiên để nhớ về, phía sau là những đứa con để yêu thương, còn cha đứng ở giữa, lặng lẽ gánh lấy phần nhọc nhằn của hiện tại và dành những gì tốt đẹp nhất cho người đi sau. Có những điều bình dị của mẹ cha nhưng có khi phải mất gần cả cuộc đời, người con mới học được cách đọc cho hết.

Sáng nay, một hộp bánh Trung thu đã vô tình chạm vào một góc sâu của ký ức, để tuổi thơ bên cha mẹ, anh chị em trong buổi chiều mưa ấy bỗng ùa về trong tôi. Tôi nhớ đôi bàn tay chai sạm của cha; từ đôi bàn tay ấy, tôi chợt nhìn thấy cả một chặng đường dài cha mẹ đã âm thầm dành trọn những năm tháng đẹp nhất của đời mình cho chúng tôi trong ngôi nhà yêu thương năm ấy.

Tu Viện Từ Ân, Melbourne đêm 24 tháng 8 năm 2026

Mùa Vu Lan năm Bính Ngọ

Thích Hạnh Phẩm

Leave a Comment

Scroll to Top