VANG VỌNG LỜI RU CỦA MẸ

Hình ảnh minh họa tình mẹ

Mỗi mùa Vu Lan trở về, giữa tiếng chuông chùa quen thuộc, những lời kinh và những câu chuyện nhắc về ân cha nghĩa mẹ. Trong tôi, lời ru của mẹ lại vang lên từ một nơi rất sâu trong lòng, như một miền ký ức riêng lặng lẽ trở về.

Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân rất đỗi bình thường, chất phác và thật thà như bao người phụ nữ quê ngày trước. Cả cuộc đời mẹ gắn với gia đình, ruộng đồng và những lo toan bình dị. Nhưng phía sau cuộc đời tưởng như bình thường ấy lại là một tuổi thơ nhiều thiếu vắng. Mẹ từng kể rằng khi mới tám tuổi, ông bà ngoại đã qua đời.

Ngày còn nhỏ, nghe mẹ kể như thế, tôi chỉ biết đó là một chuyện buồn trong quá khứ. Có lẽ khi mình còn nhỏ, ta chưa đủ trải nghiệm để hiểu một đứa trẻ tám tuổi mất cha mẹ nghĩa là gì. Nhưng càng nhiều tuổi, mỗi lần nghĩ lại tôi càng thấy thương mẹ vô cùng. Tám tuổi vẫn còn là tuổi cần được ôm vào lòng khi sợ hãi, cần một bàn tay dắt đi, cần được dỗ dành những lúc buồn tủi. Vậy mà từ tuổi ấy, mẹ đã phải lớn lên trong một khoảng trống mà có lẽ suốt cuộc đời chẳng gì có thể lấp đầy hoàn toàn.

Tôi chưa bao giờ hỏi mẹ rằng những năm tháng đó mẹ đã sống ra sao? Những lúc nhớ ông bà ngoại thì tìm ai? Những đêm buồn có ai dỗ dành hay không? Mẹ cũng chưa bao giờ đem nỗi khổ ấy ra để than thở với các con. Những người phụ nữ nông dân thuộc thế hệ của mẹ dường như có một sức chịu đựng rất lạ. Khổ thì chịu, buồn thì giấu, cuộc đời cứ thế đi qua đôi vai của họ một cách lặng lẽ.

Mẹ không được đi học nhiều, nhưng bù lại mẹ có một trí nhớ thật đặc biệt. Rất nhiều thứ như đang được cất giữ đâu đó trong trí nhớ của Mẹ. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao mẹ có thể thuộc nhiều đến vậy. Những câu hát ấy không có gì cầu kỳ. Chúng mang nguyên cái chất mộc mạc của làng quê, có ruộng đồng, con sông, bến nước, có tình cha nghĩa mẹ. Bây giờ nghĩ lại, tôi cảm thấy trong những câu hát ấy còn có cả mùi của đất, rơm rạ, mồ hôi người nông dân và những buổi chiều quê mà bao thế hệ đã sống qua.

Tôi là người con áp út trong gia đình. Từ khoảng bốn, năm tuổi, tôi đã bắt đầu để ý đến tiếng mẹ ru. Nhưng tuổi ấy thì biết gì về những vui buồn trong câu hát. Tôi chỉ biết giọng mẹ quen, biết nằm gần mẹ là yên lòng. Những buổi trưa, những đêm quê nhà, tiếng hát êm đềm đi qua tuổi thơ như gió lướt trên đồng lúa mạ. Tôi cũng không hề cố nhớ. Vậy mà không biết bằng cách nào, chúng cứ đi vào trong tôi, từng chút, từng chút một.

Khi tôi ở tuổi thiếu niên, mẹ lại ru những đứa cháu. Nhiều khi tôi ngồi ở một góc nào đó trong nhà, nghe tiếng mẹ vọng sang. Đứa cháu trong tay bà dần chìm vào giấc ngủ, còn trong tôi như có một đứa trẻ khác thức dậy. Chỉ cần nghe đúng cách mẹ ngân một câu, ký ức của những buổi trưa xa xưa bỗng trở về. Đôi khi tôi vẫn muốn làm nũng với mẹ, muốn mẹ hát cho nghe vài câu. Có lẽ trước cha mẹ, con người ta không bao giờ thật sự lớn hoàn toàn. Dẫu ngoài đời đã đi bao xa, gánh bao nhiêu trách nhiệm, khi trở về bên cha mẹ, ta vẫn là đứa trẻ của mẹ cha.

Tôi còn nhớ những buổi chiều đi học về muộn. Cả nhà đã ăn cơm xong nhưng phần cơm của tôi vẫn còn đó và mẹ vẫn ngồi chờ để ăn cùng. Tôi ngồi ăn, mẹ ngồi bên cạnh rồi kể chuyện. Hết chuyện dân gian đến chuyện người xưa, cổ tích, làng quê, lịch sử đất nước Việt Nam. Có những câu chuyện gần như tôi đã thuộc từng lời kể, từng nhịp kể của mẹ nhưng vẫn thích nghe. Trong những bữa cơm ấy, tôi chỉ ăn và nghe, chưa từng nghĩ rằng những buổi chiều bình thường như thế rồi có lúc lại trở thành một phần ký ức quý giá của đời mình.

Khi còn trẻ, ta thường đi tìm những điều lớn lao. Đi xa rồi mới hiểu cuộc đời mình thật ra được nuôi dưỡng bởi vô số điều rất nhỏ: một bữa cơm mẹ nấu, một câu hỏi của mẹ con ăn cơm chưa… Những điều ấy lúc còn có thì quá bình thường, nhưng khi năm tháng đi qua, ta mới biết có những hạnh phúc trên đời chỉ giản dị vậy thôi. Và đôi khi, điều làm ta day dứt không phải vì ngày ấy ta không yêu thương, mà vì ta đã sống giữa yêu thương quá lâu nên tưởng rằng nó sẽ luôn còn đó.

Có lẽ, trước khi đọc những trang sách nói về tình người, tôi đã nghe những vui buồn của kiếp người trong câu hát của mẹ. Mẹ không dạy bằng khái niệm, cũng không giảng giải điều gì. Mẹ chỉ hát, chỉ kể, vậy mà những gì được gieo xuống từ những ngày ấy đã âm thầm ở lại.

Từ ngày bước vào cửa Phật, xa cha mẹ rồi lại xa cả quê hương, tôi gặp nhiều người, đọc nhiều sách, nghe nhiều lời giảng, trải qua những vui buồn, gian truân mà ngày còn nằm nghe mẹ ru không thể nào hình dung được. Thế nhưng có những lúc, một nhịp hát cũ từ lời ru của mẹ bỗng trở về. Có khi tôi không còn nhớ nguyên câu, chỉ còn một âm điệu mơ hồ, nhưng từng ấy cũng đủ để mái nhà cũ hiện lên, bữa cơm chiều hiện lên, và mẹ hiện lên.

Lúc ấy tôi mới bắt đầu hiểu lời ru của mẹ chưa bao giờ mất. Nó chỉ thay đổi nơi trú ngụ. Ngày còn nhỏ, lời ru ở bên tai; khi lớn lên, lời ru đi vào ký ức; đến lúc xa quê, lời ru trở thành một phần của quê hương; và khi đã bước qua hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra lời ru ấy đã trở thành một phần của chính mình.

Trong Phật học có nói đến những chủng tử được gieo vào tâm thức. Tôi nghĩ những lời ru của mẹ cũng đã đi vào tôi như vậy. Mẹ gieo mà không biết mình đang gieo, còn tôi nhận mà cũng không biết mình đang nhận. Những hạt giống ấy nằm im trong tâm thức rất lâu, đến một lúc nào đó gặp đủ nhân duyên lại hiện hành thành một nỗi nhớ, một sự rung động, một niềm thương cảm trước thân phận của một con người hay một tình yêu khó gọi thành lời dành cho quê hương.

Vì thế, đến tuổi này tôi không còn nghĩ lời ru chỉ là những câu hát dùng để đưa trẻ nhỏ vào giấc ngủ nữa. Lời ru là một cách người mẹ trao thế giới của mình cho con. Trong lời ru có ngôn ngữ đầu tiên của quê hương, có yêu thương, buồn khổ… Nhưng sâu hơn tất cả những điều ấy, trong lời ru có chính người mẹ.

Hình ảnh minh họa tình mẹ

Có lúc, tôi cảm nhận, trong những năm tháng mẹ ru tôi, biết đâu trong chính tiếng ru ấy cũng có một phần ký ức mơ hồ về người mẹ của mẹ. Có lẽ mẹ đã không được nghe lời ru của chính mẹ mình đủ lâu. Nhưng khi trở thành mẹ, mẹ lại ru các con và sau này ru những đứa cháu. Một lời ru từng bị dang dở trong đời mẹ đã không dừng lại ở đó. Mẹ tiếp tục nó bằng tình thương của chính mình.

Có lẽ đây là điều khiến tôi thương mẹ nhất. Mẹ không có những ngôn từ như “chữa lành” hay “chuyển hóa”, nhưng bằng chính cách sống của mình, mẹ đã không để tuổi thơ thiếu thốn tình thương khép lại nơi mẹ. Những thiếu hụt trong tuổi thơ của mẹ, nhờ vậy, không chỉ còn là một mất mát; chúng trở thành tình thương cho những thế hệ sau.

Ngày nhỏ, mẹ giữ một phần tuổi thơ của tôi bằng tiếng ru, bằng những câu chuyện và những bữa cơm ngồi đợi. Bây giờ, tôi chợt thấy có một sự đổi chiều rất lặng lẽ: đến lượt tôi giữ lại một phần cuộc đời của mẹ bằng ký ức. Những gì ngày ấy mẹ cất giữ cho tuổi thơ của con, hôm nay người con lại cố cất giữ để hình bóng mẹ không bị năm tháng làm phai mờ.

Mùa Vu Lan, giữa bao nhiêu lời ca ngợi công cha nghĩa mẹ, tôi bỗng không muốn tìm một lời nào quá lớn lao để nói về mẹ. Bởi cuộc đời mẹ vốn giản dị. Tình thương của mẹ cũng bình dị. Tôi chỉ muốn được trở về một buổi chiều cũ, ngồi trước bữa cơm mẹ để phần, được ăn cơm cùng mẹ, nghe mẹ kể một câu chuyện như thuở nhỏ. Hay trở lại một buổi trưa nào đó, ngồi thật yên để nghe mẹ ru một đứa cháu, và trong tiếng hát ấy nhận ra tuổi thơ của chính mình.

Có những lời ru chỉ đưa một đứa trẻ qua một giấc ngủ. Nhưng cũng có những lời ru, khi tiếng hát đã ngừng từ rất lâu, vẫn tiếp tục một cuộc hành trình khác trong ký ức của người nghe. Nó đi qua năm tháng, qua những đổi thay của đời người, để rồi một ngày trở về và cho ta biết rằng có những yêu thương tưởng đã thuộc về quá khứ nhưng thật ra chưa bao giờ rời khỏi mình.

Và tôi biết, dẫu thời gian có đưa mình đi qua bao nhiêu mùa Vu Lan đi nữa, thì ở một nơi sâu thẳm trong lòng, lời ru của mẹ vẫn còn vang vọng mãi.

Tu Viện Từ Ân, Melbourne, mùa Vu Lan năm Bính Ngọ, 2026

Thích Hạnh Phẩm

Leave a Comment

Scroll to Top